By 15 Tháng 12, 2025

Diễn đàn nhằm đánh giá toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu chanh leo của Việt Nam, đồng thời cập nhật xu hướng thị trường thế giới.

Ngày 12/12, tại phường Pleiku (tỉnh Gia Lai), Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai tổ chức Diễn đàn “Phát triển ngành hàng chanh leo bền vững theo chuỗi liên kết”.

Diễn đàn nhằm đánh giá toàn diện thực trạng sản xuất, chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu chanh leo của Việt Nam. Đồng thời, cập nhật xu hướng thị trường thế giới, thảo luận các giải pháp phát triển ngành hàng chanh leo theo hướng bền vững, hiệu quả và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Diễn đàn cũng được kỳ vọng sẽ góp phần định hình chiến lược dài hạn cho ngành chanh leo Việt Nam, thúc đẩy liên kết sản xuất – tiêu thụ, nâng cao giá trị gia tăng và từng bước khẳng định vị thế chanh leo Việt Nam trên bản đồ nông sản thế giới.

Tổ chức sản xuất chanh leo phải chặt chẽ và tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật

Kết luận tại diễn đàn, ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, qua nhiều diễn đàn về các ngành hàng như dừa, sầu riêng và nay là chanh leo, có thể thấy rõ tinh thần đồng hành của các bên liên quan.

Diễn đàn chanh leo lần này thể hiện đúng tinh thần “nhiều nhà cùng làm”, từ cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp, hợp tác xã đến bà con nông dân. Một trong những vấn đề nổi bật được ông Dương nhấn mạnh là sản xuất và kinh doanh giống. Hiện nay, yêu cầu về giống sạch bệnh, đặc biệt là sạch virus, có chất lượng cao vẫn là thách thức lớn.

Ông Nguyễn Quý Dương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Ảnh: Phạm Hoài.

Cùng với đó, dịch hại sinh vật gây hại, nhất là bệnh virus và một số bệnh mới nổi như đốm nâu, đang tác động trực tiếp đến năng suất và tính bền vững của sản xuất. Ngoài ra, các vấn đề về liên kết sản xuất, tổ chức nông dân vào hợp tác xã, cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói và bảo đảm an toàn thực phẩm cũng được nhiều đại biểu quan tâm, bởi đây là lý do khiến dù sản phẩm có nhiều nhưng vẫn khó tiêu thụ hoặc chưa tiếp cận được thị trường tốt.

Từ thực tế đó, ông Nguyễn Quý Dương cho rằng trong thời gian tới, ngành chanh leo cần tiếp tục chuẩn hóa các khâu then chốt, trước hết là quản lý giống. Ông đề nghị các Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, được Sở Nông nghiệp và Môi trường giao nhiệm vụ, tiếp tục siết chặt công tác quản lý giống trên địa bàn, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh giống thực hiện nghiêm túc việc cung cấp giống sạch bệnh, chất lượng tốt cho nông dân. Với bà con nông dân, ông khuyến cáo cần lựa chọn giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật từ các doanh nghiệp uy tín trên thị trường.

Đối với doanh nghiệp cung ứng vật tư và tham gia liên kết sản xuất, ông Dương nhấn mạnh trách nhiệm hỗ trợ nông dân không chỉ về kỹ thuật mà cả về giá thành, để lợi ích của liên kết thể hiện rõ hơn so với việc sản xuất, mua bán đơn lẻ ngoài thị trường.

Song song với đó, việc phát triển vùng trồng và liên kết sản xuất phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. Sản xuất bền vững không thể chỉ theo tiêu chuẩn nội tại, mà phải đáp ứng đúng yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.

Ông dẫn ví dụ về những hợp tác xã, doanh nghiệp tại Gia Lai đã sản xuất sản phẩm OCOP, xuất khẩu sang châu Âu với hiệu quả tốt, thậm chí tham gia các dự án hợp tác quốc tế. Điều này cho thấy liên kết sản xuất hoàn toàn khả thi nếu được tổ chức bài bản và gắn với doanh nghiệp đầu tàu nắm chắc yêu cầu thị trường, quy định về mã số vùng trồng và tiêu chuẩn kỹ thuật của các nước nhập khẩu.

Việc phát triển vùng trồng và liên kết sản xuất chanh leo phải xuất phát từ nhu cầu thị trường.

Về phía cơ quan quản lý, ông Nguyễn Quý Dương cho biết Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật sẽ tiếp tục đẩy mạnh mở cửa và phát triển thị trường. Hiện nay, chanh leo Việt Nam đã xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc và Australia, đồng thời đang đàm phán với Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số thị trường khác. Tuy nhiên, dù xuất khẩu quả tươi hay sản phẩm chế biến, yêu cầu về an toàn thực phẩm vẫn là điều kiện bắt buộc, đòi hỏi tổ chức sản xuất phải chặt chẽ và tuân thủ nghiêm quy trình kỹ thuật.

Ông cũng nhấn mạnh vai trò phối hợp của hệ thống quản lý từ bộ, cục, viện, sở, chi cục đến các đơn vị khuyến nông địa phương, cùng sự đồng hành của doanh nghiệp và các cơ quan báo chí. Trong đó, Báo Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục là cầu nối, ghi nhận, phản ánh các ý kiến, đề xuất của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, chuyển tải tới cơ quan quản lý để cùng tháo gỡ.

Sức khỏe đất là yếu tố then chốt trong canh tác

Đại diện Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI) cho biết, tình trạng cây chanh leo không cho trái có thể xuất phát từ nguồn giống kém chất lượng, nhất là khi các vườn ươm mua giống qua mạng, không rõ xuất xứ. Vì vậy, cần tăng cường tuyên truyền để nông dân chọn giống bảo đảm, tránh rủi ro ngay từ đầu vụ.

“Sức khỏe đất là yếu tố then chốt trong canh tác. Nông dân không nên tận dụng các loại đất lệch pha như đất tái canh cà phê, bởi dinh dưỡng vốn được điều chỉnh phù hợp cho cà phê và có thể tiềm ẩn nhiều sâu bệnh gây hại cho chanh leo. Cỏ dại cũng cần được quản lý hợp lý, không nên gom đốt quá sạch vì lá và quả rụng là nguồn hữu cơ quan trọng, góp phần duy trì độ phì của đất”, chuyên gia WASI cho biết.

Bên cạnh đó, hệ thống giàn phải được dựng đúng kỹ thuật để tránh đổ trong điều kiện thời tiết bất ổn. Viện cũng khuyến cáo nông dân cân nhắc kỹ khi trồng xen chanh leo – cà phê, đảm bảo sự cân bằng sinh thái và tránh nguy cơ lây chung mầm bệnh.

Về bảo vệ thực vật, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên khuyến khích sử dụng thuốc sinh học, xử lý theo mức độ gây hại thay vì phun tràn lan. Một số biện pháp truyền thống vẫn phát huy hiệu quả, như sử dụng chai nhựa đục lỗ, đổ nước pha với lá trầu giã nhỏ để bẫy ruồi vàng.

Xây dựng vùng trồng đạt chuẩn

Bà Trần Thị Tầm, Giám đốc HTX Dịch vụ An Nhiên, xã Chư Krey cho rằng, để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, cần sớm triển khai đồng bộ việc cấp mã số vùng trồng, áp dụng các tiêu chuẩn như GlobalGAP, qua đó tạo nền tảng để chanh leo Gia Lai tiếp cận các thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao.

Theo HTX, đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là điều kiện then chốt để nâng tầm giá trị ngành hàng, tránh tình trạng sản xuất manh mún, thiếu kiểm soát như trước đây. Bên cạnh đó, HTX đặc biệt nhấn mạnh vai trò quản lý giống chanh leo trên địa bàn. Thực tế cho thấy, giống không rõ nguồn gốc, chất lượng kém, năng suất thấp và khả năng chống chịu sâu bệnh yếu vẫn đang tồn tại, gây rủi ro lớn cho người trồng.

Bà Trần Thị Tầm, Giám đốc HTX Dịch vụ An Nhiên, xã Chư Krey.

HTX khẳng định sẵn sàng đồng hành cùng cơ quan quản lý và người nông dân trong việc tổ chức sản xuất theo chuỗi, thực hiện các tiêu chuẩn kỹ thuật và mục tiêu phát triển bền vững của ngành hàng chanh leo.

Trao đổi với đề xuất này, ông Nguyễn Quý Dương – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, khẳng định đây là những ý kiến rất chính đáng, không chỉ của riêng HTX mà cũng là mong muốn chung của nhiều tổ chức, cá nhân đang gắn bó với cây chanh leo.

Ông Nguyễn Quý Dương – Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Theo ông, chủ trương của Trung ương là giao cho địa phương chủ động tổ chức thực hiện; tỉnh sẽ tiếp tục giao Sở Nông nghiệp và Môi trường, trong đó có Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, làm đầu mối triển khai liên kết sản xuất, quản lý giống, hướng dẫn kỹ thuật và xây dựng vùng trồng đạt chuẩn.

Ông nhấn mạnh, chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, hợp tác xã, doanh nghiệp và người nông dân thì các mục tiêu về mã số vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển bền vững ngành hàng chanh leo mới có thể được thực hiện hiệu quả và đi vào thực chất.

Ông Dương đặc biệt nhấn mạnh rằng để quá trình cấp mã số vùng trồng và xây dựng liên kết được thuận lợi, các HTX cần chủ động bắt tay với doanh nghiệp chế biến hoặc doanh nghiệp xuất khẩu. Khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa HTX – doanh nghiệp – chính quyền địa phương, các thủ tục liên quan đến mã số vùng trồng, quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn và các chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp sẽ được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đây cũng là nền tảng để phát triển sản xuất chanh leo bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc tế.

Lưu ý quản lý sâu bệnh cho cây chanh leo

Liên quan đến câu hỏi tại sao cây giống công ty mới đưa về đã có bệnh đốm nâu, ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, bác bỏ nhận định này. “Bệnh đốm nâu phát triển trong quá trình phát triển, đặc biệt khi lên giàn, ra hoa và đậu quả, chắc chắn không phải có sẵn từ cây giống.

Để xử lý, người trồng có thể sử dụng thuốc đặc trị, tuy nhiên cần đảm bảo thời gian dùng tối thiểu 10 ngày trước khi thu hoạch”, ông giải thích. Về vấn đề cây không ra hoa, đậu quả, Phó Giám đốc Đoàn Ngọc Có cho rằng nguyên nhân có thể do yếu tố thời tiết.

Lãnh đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Báo Nông nghiệp và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Môi trường và Công ty Nafoods chủ trì phiên thảo luận tại Diễn đàn.

Cây chanh leo cần phát triển trong điều kiện khí hậu từ 15°C và dưới 35°C, nếu nhiệt độ dưới 15°C, cây sẽ không ra hoa hoặc hoa sẽ bị héo. Vì vậy, người trồng có thể can thiệp bằng cách phun KNO để kích thích cây ra hoa, đậu quả.

Ông cũng khuyến khích khi tham gia liên kết sản xuất, bà con cần tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật của thị trường đầu ra (ví dụ: dư lượng thuốc bảo vệ thực vật) để đảm bảo giá cả và chất lượng.

Cần ‘sống chung’ với sự điều tiết của thị trường

Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Tập đoàn Nafoods, bày tỏ niềm tự hào khi Tây Nguyên, đặc biệt là Gia Lai, đã trở thành “thủ phủ chanh leo số 1 thế giới”, nơi hội tụ đầy đủ điều kiện tự nhiên và nguồn lực sản xuất để phát triển cây trồng này ở quy mô lớn và chất lượng cao.

Ông Hùng thẳng thắn nhìn nhận, sản xuất chanh leo chưa bao giờ là dễ khi cây trồng này mẫn cảm với thời tiết, sâu bệnh và đặc biệt là yêu cầu kỹ thuật rất cao. Tuy nhiên, theo ông, thay vì lo ngại, người trồng cần thay đổi tư duy, học cách “sống chung với cây chanh leo”, nghĩa là chủ động nắm bắt kỹ thuật, thích ứng với biến động thị trường và đồng hành cùng doanh nghiệp để giải quyết khó khăn.

Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Phó Chủ tịch Thường trực HĐQT, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tập đoàn Nafoods. Ảnh: Phạm Hoài.

Sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất và chế biến chanh leo tại Gia Lai thời gian qua chính là tín hiệu tích cực, giúp bà con yên tâm hơn trong sản xuất lâu dài. Ông Hùng nhấn mạnh, để nâng cao chất lượng quả và đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường nhập khẩu, từng nông dân và từng hợp tác xã cần tham gia vào quá trình xây dựng thương hiệu bền vững cho chanh leo Việt Nam.

Theo ông, thương hiệu quốc gia không phải do một doanh nghiệp tạo ra mà là nỗ lực đồng bộ của toàn bộ chuỗi giá trị, từ kỹ thuật canh tác, kiểm soát giống, quản lý vùng trồng, thu hoạch đến chế biến.

Sản phẩm cây giống chanh leo tím ngọt Nafoods 1 của Công ty chanh leo Nafoods.

Đại diện Nafoods cũng bày tỏ lo ngại về vấn đề dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Ông Hùng cho biết sản phẩm chanh leo cô đặc, vốn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đang gặp nhiều rào cản do dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cao, thậm chí gấp 4 lần so với quả tươi. Mỹ và châu Âu đã đưa ra danh sách nhiều hoạt chất bị cấm, khiến các doanh nghiệp hết sức trăn trở.

Theo ông Hùng, chỉ cần một lô hàng vi phạm cũng có thể khiến uy tín ngành hàng bị ảnh hưởng, vì vậy việc sản xuất an toàn, đúng quy trình phải được coi là ưu tiên hàng đầu. Thời gian qua, Nafoods đã hỗ trợ nông dân từ giống đến kỹ thuật canh tác, giúp họ cải thiện kiến thức và thói quen sản xuất. Ông cho rằng nếu vùng nguyên liệu được tổ chức bài bản, tuân thủ quy chuẩn an toàn, doanh nghiệp hoàn toàn có thể yên tâm trong khâu chế biến và tự tin chinh phục những thị trường khó tính nhất.

Trong chiến lược 5 năm tới, Nafoods đặt mục tiêu đẩy mạnh công nghệ giống và phát triển các loại phân bón hữu cơ chất lượng cao, hướng đến nền sản xuất bền vững hơn. Doanh nghiệp cũng cam kết đồng hành cùng nông dân trong số hóa vùng trồng, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc. Đây chính là yếu tố được xem là chìa khóa để chanh leo Việt Nam khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.

Ngành chanh leo gặp khó vì lệ thuộc vào một số thị trường

Tại diễn đàn, đại diện một doanh nghiệp đang trực tiếp tham gia sản xuất và liên kết tiêu thụ chanh leo tại Gia Lai cho rằng, điều quan trọng hiện nay là làm sao để những thông tin về chính sách, định hướng phát triển của cơ quan quản lý nhà nước được truyền tải đầy đủ, kịp thời tới người dân địa phương, từ đó tạo động lực và sự đồng thuận trong phát triển ngành hàng chanh leo. Theo đại diện doanh nghiệp này, từ thực tiễn theo dõi và tham gia chuỗi chanh leo, hai vấn đề cốt lõi luôn khiến doanh nghiệp trăn trở là quy hoạch diện tích và quản lý dịch bệnh.

Một đại biểu khách mời đặt câu hỏi cho lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai về những định hướng phát triển bền vững ngành hàng chanh leo.

Những năm trước, việc phát triển nóng, thiếu định hướng rõ ràng đã dẫn tới tình trạng dư cung, giá rớt mạnh, nhiều vườn chanh leo bị bỏ hoang, thậm chí có thời điểm người dân phải đổ bỏ sản phẩm. Đây là bài học rất đau xót, bởi chi phí đầu tư cho chanh leo không nhỏ, từ giống, giàn, vật tư đến công chăm sóc.

Doanh nghiệp mong muốn tỉnh Gia Lai có định hướng quy hoạch chính xác, ổn định để các đơn vị sản xuất, liên kết như doanh nghiệp có cơ sở tương tác lâu dài với nông hộ, đồng thời truyền thông chính sách một cách thực chất, gắn với quy hoạch vùng trồng cụ thể.

Ông Đoàn Ngọc Có – Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai (người cầm micro).

Trả lời ý kiến này, ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai khẳng định, nhu cầu chanh leo trên thị trường thế giới hiện nay là rất lớn. Thực tế, nhiều đơn hàng xuất khẩu chưa thể đáp ứng không phải vì thừa sản phẩm, mà do thiếu sản phẩm đạt chất lượng và đủ tiêu chuẩn. Các thị trường như châu Âu, Nhật Bản yêu cầu GlobalGAP với tiêu chuẩn rất cao; thị trường Trung Quốc cũng đòi hỏi mã số vùng trồng và kiểm soát chặt quy trình sản xuất.

Theo ông Có, lâu nay ngành chanh leo gặp khó vì lệ thuộc vào một số thị trường, trong khi các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường cao cấp chưa được đáp ứng đầy đủ. Diện tích chanh leo hiện có chưa đủ để cung ứng cho nhu cầu toàn cầu, nhưng lại thiếu sản phẩm đạt chuẩn, vì vậy không thể nói là thừa sản lượng.

Về quy hoạch, ông Đoàn Ngọc Có cho biết tỉnh Gia Lai đặt mục tiêu phát triển khoảng 20.000 ha chanh leo, hướng tới xây dựng Gia Lai trở thành “thủ phủ” chanh leo của cả nước. Quy hoạch này được xây dựng trên cơ sở khoa học, dựa vào điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu và yêu cầu của từng thị trường, từng phân khúc sản phẩm.

Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận, một trong những hạn chế hiện nay là việc tổ chức sản xuất của người dân chưa chặt chẽ, chưa tuân thủ đầy đủ quy trình kỹ thuật. Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, phân bón vô cơ khiến sản phẩm không đạt tiêu chuẩn, khó tiếp cận thị trường xuất khẩu. Chất lượng không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất mà còn kéo dài tới khâu bao bì, đóng gói, phải phù hợp với từng thị trường cụ thể.

Yêu cầu chất lượng sản phẩm chanh leo ngày càng nghiêm ngặt

Theo ông Đào Văn Cường, Chuyên viên Văn phòng SPS Việt Nam, nước ta đã ban hành các tiêu chuẩn cụ thể cho chanh leo, bao gồm TCVN 11411:2016 cho chanh leo quả tươi, áp dụng cho các giống chanh leo phổ biến (vàng đậm, tím, vàng nhạt và giống lai), tiêu chuẩn TCVN 13941:2023 cho chanh leo đông lạnh và TCVN 13942:2023 cho chanh leo sấy dẻo.

Các thị trường xuất khẩu đều áp đặt các rào cản kỹ thuật và kiểm dịch thực vật (SPS) nghiêm ngặt. Tại Trung Quốc, xuất khẩu chanh leo tươi được điều chỉnh bởi Nghị định thư về Yêu cầu Kiểm dịch thực vật giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam (MAE) và Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC).

Ông Đào Văn Cường, Chuyên viên Văn phòng SPS Việt Nam báo cáo tham luận “Tiêu chuẩn, kỹ thuật các thị trường nhập khẩu với sản phẩm chanh leo Việt Nam”. Ảnh: Phạm Hoài.

Sản phẩm phải tuân thủ luật pháp và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm của cả hai nước, đặc biệt không được nhiễm các đối tượng kiểm dịch thực vật mà nước này quan tâm. “Sau quá trình phân tích rủi ro an toàn sinh học, Úc đã cho phép nhập khẩu chanh dây tươi từ Việt Nam. Biện pháp quản lý rủi ro chính được thống nhất là sử dụng chiếu xạ trước khi xuất khẩu để kiểm soát các loại dịch hại như ruồi giấm, rệp sáp, rệp vảy, và ve nhện nhằm đạt được mức độ bảo vệ thích hợp của Úc. Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Việt Nam chịu trách nhiệm duy trì truy xuất nguồn gốc, đăng ký đơn vị chuỗi cung ứng, và thực hiện kiểm tra, cấp chứng nhận kiểm dịch.

Tại Mỹ, chanh leo nhập khẩu phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định của FDA (Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm), cụ thể: không được chứa dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc hóa chất vượt quá giới hạn cho phép. Các cơ sở sản xuất phải áp dụng hệ thống HACCP để kiểm soát rủi ro an toàn thực phẩm.

Bên cạnh xuất xứ và chất lượng sản phẩm, Bộ Nông nghiệp và Cục Kiểm dịch thực vật và động vật Hoa Kỳ quy định thêm về yêu cầu kiểm dịch thực vật”, ông cho biết thêm. Trong khi đó, thị trường Liên minh châu Âu (EU) liên tục cập nhật quy định SPS, tăng cường kiểm soát biên giới đối với nhóm hàng nguy cơ, như chanh leo từ Thái Lan và sầu riêng từ Việt Nam đưa vào danh mục tăng cường kiểm soát do rủi ro dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.

Một số quốc gia khác như Nhật Bản và Anh tiếp tục điều chỉnh mức dư lượng tối đa (MRL) đối với các hoạt chất như Inpyrfluxam, Spirotetramat, Fenamiphos, cho thấy yêu cầu kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt.

Xu hướng tiêu dùng sản phẩm chanh leo đã thay đổi

Ông Hồ Hải Quân, Giám đốc Công ty CP Nafoods Tây Nguyên, cho biết, thị trường chanh leo thế giới đang thay đổi nhanh chóng, mở ra cả cơ hội lẫn thách thức cho người sản xuất và doanh nghiệp Việt Nam. Xu hướng tiêu dùng hiện nay nghiêng mạnh về các loại đồ uống tự nhiên, ít xử lý hóa học, ưu tiên sản phẩm hữu cơ và những dòng sản phẩm giàu dinh dưỡng, ít đường, tốt cho sức khỏe. Người tiêu dùng cũng tìm kiếm những hương vị mới, tạo điều kiện để các sản phẩm từ chanh leo mở rộng thị phần.

Đi cùng với xu hướng này, các nhà nhập khẩu đặt ra những yêu cầu ngày càng khắt khe. An toàn thực phẩm, kiểm dịch và mức dư lượng cho phép là những tiêu chí bắt buộc. Chuỗi cung ứng phải có hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ, minh bạch. Doanh nghiệp muốn xuất khẩu phải đạt các chứng chỉ quốc tế như HACCP, ISO, BRC, Halal, GlobalGAP, đồng thời đáp ứng yêu cầu ESG về lao động, môi trường và quản trị bền vững.

Ông Hồ Hải Quân, Giám đốc Công ty CP Nafoods Tây Nguyên. Ảnh: Phạm Hoài.

Trong cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam đang đối đầu trực tiếp với các quốc gia Nam Mỹ như Brazil, Peru hay Ecuador. Việt Nam có lợi thế về chi phí cạnh tranh, chất lượng quả và lợi thế thời vụ nhưng vẫn gặp khó ở quy mô sản xuất và mức độ nhận diện thương hiệu trên thị trường quốc tế. Vì vậy, việc xây dựng mối liên kết bền vững giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp chế biến – nhà cung ứng – nhà phân phối được xem là yếu tố quyết định.

Liên kết ấy cần dựa trên hợp đồng bao tiêu rõ ràng, chia sẻ lợi ích và rủi ro công bằng, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn kỹ thuật và truy xuất nguồn gốc. Đối với Nafoods, định hướng phát triển được đặt trên ba trụ cột.

Thứ nhất là vùng nguyên liệu khi doanh nghiệp sẽ tiếp tục mở rộng vùng trồng theo mô hình hợp tác xã và liên kết bền vững, đào tạo nông dân, chuẩn hóa quy trình theo VietGAP và GlobalGAP, đồng thời ứng dụng số hóa để quản lý dữ liệu vùng trồng.

Thứ hai là chế biến, Nafoods tập trung nâng cấp công nghệ để tăng chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm chanh leo từ nước giải khát, đồ uống pha sẵn đến các sản phẩm phối trộn, hướng đến xây dựng thương hiệu chanh leo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thứ ba là thị trường và chuỗi liên kết, doanh nghiệp ký kết hợp đồng dài hạn với đối tác nhập khẩu, thúc đẩy mô hình liên kết “5 nhà” gồm doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân – ngân hàng – Nhà nước, đồng thời tích cực tham gia hội chợ, diễn đàn và các nền tảng thương mại điện tử B2B.

Quản lý tổng hợp sâu bệnh trên chanh leo

Theo bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, chanh leo hiện là một trong những cây ăn quả phát triển nhanh, với diện tích hơn 10.000 ha, sản lượng trên 160.000 tấn mỗi năm, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia cung ứng chanh leo lớn trên thế giới.

Tuy nhiên, chanh leo là cây trồng mẫn cảm với nhiều loại sâu bệnh, đặc biệt là bệnh virus, đang trở thành thách thức lớn nhất đối với sản xuất bền vững. Kết quả điều tra và giám định cho thấy, bệnh virus là nguyên nhân gây thiệt hại nghiêm trọng nhất, trong đó bệnh cứng trái chiếm tỷ lệ cao nhất.

Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Phó Viện trưởng Viện Bảo vệ thực vật – Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam.

Tại Việt Nam đã ghi nhận 6 loài virus thuộc 3 chi khác nhau, đáng chú ý là nhóm Potyvirus gồm East Asian Passiflora virus (EAPV), Passiflora mottle virus (PaMoV) và Telosma mosaic virus (TelMV). Trong đó, PaMoV chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là EAPV và các trường hợp nhiễm hỗn hợp.

Virus lây lan chủ yếu qua nhân giống vô tính, qua côn trùng môi giới như rệp, bọ phấn, bọ trĩ và qua dụng cụ canh tác, trong khi triệu chứng ban đầu thường khó nhận biết, dễ nhầm lẫn với thiếu dinh dưỡng hoặc tác hại cơ giới.

Bên cạnh bệnh virus, cây chanh leo còn chịu áp lực lớn từ các bệnh hại do nấm và vi khuẩn như đốm nâu, thán thư, thối gốc phình thân, cùng nhiều đối tượng côn trùng chích hút, nhện và ruồi đục quả. Những tác nhân này không chỉ làm giảm năng suất, chất lượng quả mà còn gián tiếp làm gia tăng nguy cơ lây lan virus trên đồng ruộng.

Quản lý tổng hợp sâu bệnh hại là giải pháp cốt lõi để phát triển các vùng trồng chanh leo bền vững.

Trước thực trạng đó, bà Nguyễn Thị Bích Ngọc nhấn mạnh quản lý tổng hợp sâu bệnh hại là giải pháp cốt lõi. Trọng tâm của IPM là sử dụng cây giống khỏe, sạch bệnh; quản lý chặt chẽ nguồn giống và tuyệt đối không nhân giống từ cây đã nhiễm virus. Song song với đó là các biện pháp canh tác tổng hợp như vệ sinh đồng ruộng, xử lý đất, nâng cao sức khỏe đất bằng phân hữu cơ và vi sinh, huấn luyện cây con trong nhà lưới cách ly trước khi trồng.

Việc sử dụng biện pháp sinh học, đặc biệt là các chế phẩm chứa nấm đối kháng, vi sinh vật có ích và nấm ký sinh côn trùng, được đánh giá mang lại hiệu quả bền vững, góp phần giảm phụ thuộc vào thuốc hóa học.

Biện pháp hóa học chỉ được sử dụng khi cần thiết, theo nguyên tắc “4 đúng”, tập trung vào kiểm soát côn trùng môi giới truyền virus và các bệnh nấm trong những thời điểm nhạy cảm. Thực tế mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp IPM cho thấy sau 6 tháng không ghi nhận bệnh virus, hiệu quả kinh tế tăng trên 20%.

Xuất khẩu chanh leo tăng trưởng “thần tốc” trong 10 năm

Theo ông Tô Văn Huấn, Đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật, xuất khẩu chanh leo Việt Nam đã tăng trưởng “thần tốc”, từ 20 triệu USD năm 2015 lên 222,5 triệu USD vào năm 2023. Tính đến tháng 10 năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 202 triệu USD.

Hiện tại, Tây Nguyên là thủ phủ chanh leo của cả nước, chiếm 86,4% diện tích và 92,5% sản lượng năm 2024; miền Bắc chiếm 12,5% diện tích. Việt Nam đã công bố lưu hành 43 giống chanh leo, phục vụ cho nhu cầu sản xuất và xuất khẩu ngày càng tăng.

Ông Tô Văn Huấn, Đại diện Cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Ông Huấn đánh giá, cây chanh leo tại Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế về điều kiện địa hình, đất đai và khí hậu thuận lợi. Đặc biệt khi canh tác tại Tây Nguyên cùng một số vùng khác, cây có chu kỳ sinh trưởng ngắn (4-5 tháng) và đạt năng suất cao. Thị trường tiêu thụ cũng rộng mở với nhu cầu đa dạng (trên 80% là sản phẩm chế biến và quả tươi).

Tuy nhiên, ngành chanh leo đang đối mặt với các thách thức về quản lý giống sạch bệnh, quy mô sản xuất nhỏ lẻ và quy trình canh tác tiên tiến chưa toàn diện. Mặt khác, liên kết chuỗi còn lỏng lẻo, công nghệ bảo quản – chế biến sâu thiếu đồng bộ, nguồn cung không ổn định, trong khi các rào cản kỹ thuật và yêu cầu kiểm dịch quốc tế ngày càng khắt khe.

Theo Đề án Phát triển cây ăn quả chủ lực giai đoạn 2025-2030, chanh leo được định hướng trở thành ngành hàng phát triển bền vững, với mục tiêu duy trì 12-15 nghìn ha và sản lượng 250 – 300 nghìn tấn, tập trung tại các tỉnh trọng điểm như Lâm Đồng, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng trị, Nghệ An và Sơn La.

“Để hiện thực hóa mục tiêu, các địa phương cần rà soát diện tích, hình thành vùng sản xuất tập trung gắn với hạ tầng và chế biến. Đồng thời, kiểm soát phát triển tự phát, khuyến khích hợp tác xã liên kết doanh nghiệp và sản xuất theo hợp đồng, theo chuẩn an toàn và truy xuất nguồn gốc.

Một vườn chanh leo trồng tại Gia Lai.

Về quản lý giống, phải đầu tư sản xuất giống sạch bệnh trong nước, ban hành tiêu chuẩn giống và tăng cường thanh kiểm tra. Công tác chuyển giao kỹ thuật, dự báo sâu bệnh, tổ chức sản xuất rải vụ và nâng cao năng lực thu hoạch – bảo quản cũng là những “mắt xích” then chốt.

Bên cạnh giữ vững thị trường truyền thống, ngành cần tháo gỡ các rào cản kiểm dịch để mở rộng thị trường, nâng tầm thương hiệu chanh leo Việt Nam trên bản đồ nông sản thế giới”, ông Huấn cho biết.

Gia Lai thu hút đầu tư công nghệ nâng cao chất lượng giống chanh leo

Theo ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, việc chanh leo Việt Nam được xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc từ tháng 7/2022 đã mở ra một cơ hội lớn, tạo động lực mạnh mẽ để ngành hàng này phát triển. Từ cánh cửa thị trường rộng mở, thu nhập và lợi nhuận của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong chuỗi giá trị đều gia tăng rõ rệt.

Tại Gia Lai, một số doanh nghiệp đã bắt tay liên kết với hợp tác xã và người trồng để xây dựng chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ chanh leo theo hướng bền vững. Những liên kết này không chỉ giúp hình thành vùng nguyên liệu ổn định mà còn đáp ứng yêu cầu xây dựng mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, đồng thời phục vụ chế biến sâu và xuất khẩu với sản lượng lớn.

Ông Đoàn Ngọc Có, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai. Ảnh: Phạm Hoài.

Song song với đó, vấn đề kiểm soát chất lượng cây giống luôn được ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương đặc biệt chú trọng. Tỉnh đã mời gọi các doanh nghiệp uy tín đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất giống ứng dụng công nghệ hiện đại, trang bị phòng thí nghiệm kiểm định chất lượng trước khi cung cấp ra thị trường. Nhờ vậy, nguồn giống chanh leo ngày càng bảo đảm hơn về chất lượng, ổn định và bền vững.

Tuy nhiên, sự phát triển của ngành hàng vẫn đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp; nhiều diện tích trồng chanh leo còn manh mún, rời rạc; không ít hộ dân vẫn trồng tự phát trên những chân đất và điều kiện nước tưới chưa phù hợp; công tác quản lý chất lượng giống chưa thật sự vững chắc; trong khi các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc ngày càng đưa ra yêu cầu nghiêm ngặt hơn về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Chanh leo Việt Nam được trồng tập trung tại nhiều tỉnh Tây Nguyên.

“Muốn thúc đẩy ngành hàng chanh leo phát triển bền vững theo chuỗi liên kết thì cần sự thống nhất cao về nhận thức và hành động giữa các chủ thể tham gia. Trong đó, mối quan hệ hữu cơ giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp chính là yếu tố quyết định thành công của toàn chuỗi giá trị”, ông Đoàn Ngọc Có nhấn mạnh.

Đồng bộ hóa sản xuất để tháo gỡ triệt để “nút thắt” ngành hàng chanh leo

Phát biểu tại Diễn đàn “Phát triển ngành hàng chanh leo bền vững theo chuỗi liên kết”, ông Vũ Minh Việt, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường cho rằng, diễn đàn được tổ chức trong bối cảnh đặc biệt, khi ngành hàng chanh leo của Việt Nam, nhất là tại khu vực Tây Nguyên và tỉnh Gia Lai, đang đứng trước cả những cơ hội phát triển rất lớn lẫn những thách thức không nhỏ cần sớm được nhận diện và xử lý.

Theo ông Vũ Minh Việt, trong những năm gần đây, chanh leo đã vươn lên trở thành một trong những cây trồng có tốc độ phát triển nhanh, giá trị kinh tế cao và đóng góp ngày càng rõ nét vào kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước.

Ông Vũ Minh Việt, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường phát biểu khai mạc Diễn đàn. Ảnh: Phạm Hoài.

Tây Nguyên đang dần khẳng định vị thế là “thủ phủ” chanh leo của Việt Nam, trong đó Gia Lai giữ vai trò trung tâm với quy mô sản xuất lớn nhất, hội tụ đầy đủ các yếu tố của một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ điều kiện đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu thuận lợi đến khâu giống, tổ chức sản xuất, chế biến và xuất khẩu.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh, thậm chí có thời điểm mang tính “nóng”, cũng đã bộc lộ nhiều vấn đề đáng lo ngại. Bên cạnh những biến động khó lường của thị trường và giá cả, thách thức lớn nhất hiện nay, theo ông Vũ Minh Việt, chính là bài toán chất lượng và tính bền vững của ngành hàng chanh leo được kỳ vọng đạt quy mô tỷ đô.

Thực tế sản xuất cho thấy dịch bệnh trên cây chanh leo đang diễn biến ngày càng phức tạp. Cùng với dịch bệnh, vấn đề chất lượng giống tiếp tục là một “nút thắt” lớn chưa được tháo gỡ triệt để. Hệ quả là nhiều vườn chanh leo phát triển không đồng đều, khả năng kháng bệnh kém, thậm chí không cho quả, làm suy giảm niềm tin của người dân đối với một ngành hàng từng được xem là cây trồng mang lại cơ hội làm giàu bền vững trên chính quê hương mình.

Từ thực tiễn đó, ông Vũ Minh Việt nhấn mạnh, nếu không kịp thời chấn chỉnh đồng bộ từ khâu giống, tổ chức sản xuất, quản lý dịch hại đến xây dựng và vận hành thị trường, ngành hàng chanh leo rất dễ lặp lại “vết xe đổ” của giai đoạn phát triển ồ ạt trước đây.

Ông Vũ Minh Việt bày tỏ tin tưởng rằng, với sự vào cuộc đồng bộ của các cấp quản lý, sự chủ động của doanh nghiệp, hợp tác xã và sự thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân, ngành hàng chanh leo Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển theo hướng chuyên nghiệp, bền vững, xứng đáng với tiềm năng và kỳ vọng đã đặt ra.

Nguồn: nongnghiepmoitruong